Đường dây nóng: 0212.3852048 - 02123.799269
Liên kết website
VIDEO
Không có video - Upload lại link
Banner Liên Kết

CHUYỆN CỦA HAI NGƯỜI GIAO LIÊN HỎA TỐC

Cập nhật: 02:11:42 17 / 11 / 2015
Lượt xem: 952
Đúng ngày 2-9-1950, 5 năm sau ngày Hồ Chủ tịch đọc tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tại căn cứ kháng chiến chống thực dân Pháp, giữa rừng già núi Tản huyền thoại - cơ quan Bưu điện tỉnh Sơn Tây tổ chức đám cưới cho 2 cán bộ đều là giao liên hỏa tốc*­. Vật chất đơn sơ nhưng ấm áp tình bạn bè, đồng chí. Ngày lập nước năm ấy cũng là ngày khai sinh một tổ ấm gia đình trở thành kỷ niệm sâu sắc theo suốt cuộc đời của 2 lão đảng viên đến khi họ nhắm mắt xuôi tay.

  Đã thành lệ, hàng năm cứ đến ngày 2-9, bố mẹ tôi đều làm vài mâm cơm để anh em, con cháu quây quần gặp mặt mừng ngày Quốc khánh cũng là để ôn lại kỷ niệm ngày cưới của hai cụ. Vui vẻ bên mâm cơm, câu chuyện mà các cụ kể cho con cháu nghe chính là những chuyến công tác địch hậu đầy ắp nỗi truân chuyên song cũng nhờ vậy đã vun đắp cho mối tình của 2 người giao liên và có đám cưới đúng ngày 2-9 của họ.
        Khi còn nhỏ, tôi biết bố tôi cất giữ những kỷ vật gia đình rất cẩn thận trong một chiếc hộp sắt tây cũ gỉ. Một năm đôi lần vào dịp quốc khánh và Tết Nguyên đán bố tôi mới mở chiếc hộp đó ra. Những lúc đó tay ông run run cầm trên tay đưa từng tấm ảnh cho chị em tôi xem. Tôi còn nhớ rõ trong chiếc hộp đó có một bức ảnh cỡ 6x9 là chân dung ông nội tôi, một bức ảnh bố tôi được phóng viên mặt trận chụp trước cửa hang đá ngay sau cuộc oanh kích của máy bay địch vào căn cứ, một bức ảnh mẹ tôi bế chị cả tôi lúc mới sinh ít ngày… Tất cả các tấm ảnh đều đã nhuốm màu thời gian. Ông bảo: “Mỗi tấm ảnh là một góc của cuộc đời bố đấy”, mấy mươi năm chiến tranh, nay đây mai đó bố chỉ còn giữ được chút ít hình ảnh của những người ruột thịt, về kỷ niệm của một thời để mà nhớ. Những năm tháng hoạt động địch hậu gian nan song bố đã được sống, được yêu thương và sát cánh chiến đấu bên các đồng chí và mẹ các con như thế đấy”.
        Bố tôi là người con của quê lụa Hà Tây. Ông sinh năm 1929, xuất thân trong một gia đình nhà giáo, bởi vậy cùng với 2 người em, (một người em gái và một người em trai) được cụ tôi nuôi ăn học từ nhỏ. Thế nhưng thật không may cho bố tôi và các cô, chú tôi đó là ông nội tôi lại ra đi quá sớm vì căn bệnh phổi khiến cho việc học của bố dở dang hơn thế nữa khi bà nội tôi đi bước nữa anh em ly tán mỗi người một nơi. Những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp đã vậy rồi cả đến khi hòa bình lập lại bố tôi không còn được một lần gặp mặt mẹ và người em trai nữa. Đó là những thiệt thòi không có gì bù đắp nổi. Sau khi cụ tôi mất, bố tôi được người chú ruột dạy học ở trường làng đón về nuôi cho ăn học tiếp còn cô và chú tôi theo mẹ và dượng. Khi kháng chiến toàn quốc diễn ra được 2 năm, năm 1947 bố tôi ra nhập du kích xã rồi vào bộ đội. Mẹ tôi sinh năm 1927, xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo quê xã Cổ Đô, huyện Ba Vì – Sơn Tây (nay là Hà Nội). Ông bà ngoại tôi sinh được 3 người con, mẹ tôi và 2 cậu. Nghe phong thanh, bà ngoại tôi quê ở xã Thụy Liễu, huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ. Đời người con gái 12 bến nước, trong đục ra sao chưa biết chứ thời đó xuất giá là mất luôn cả quê. Đời sống quá khó khăn ông bà ngoại tôi dắt díu các con dời quê lên cư trú ở xã Minh Quang sát chân núi Ba Vì sinh sống. Thế nhưng lên đây cũng chẳng khá hơn ở quê. Mẹ tôi và 2 cậu phải đi ở cho địa chủ kiếm cơm ăn. Tuy không bị đòn roi vì ông địa chủ là người chú trong họ và thân cách mạng (sau cải cách ông được quy thành phần là địa chủ kháng chiến) song kiếp đi ở đâu có dám mơ đến việc học hành, cả mấy chị em mười mấy tuổi mà không có biết đến một con chữ. Cuộc sống khốn quẫn ông ngoại tôi đã treo cổ tự vẫn. 2 năm sau Cách mạng tháng Tám, vâng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch mẹ tôi trốn nhà lên núi Ba Vì tham gia du kích xã Minh Quang. Hai cậu tôi lần lượt gia nhập bộ đội vào những năm sau đó.  
          Đầu năm 1950, khi ta đang gấp rút chuẩn bị cho chiến dịch Biên giới Thu Đông, cha tôi (tròn 22 tuổi) được phân công làm nhiệm vụ giao liên giữa vùng địch tạm chiếm (huyện Phúc Thọ, thuộc Hà Nội bây giờ) với vùng tự do. Đây là nhiệm vụ vô cùng khó khăn bởi công việc đòi hỏi phải là người nhanh trí, dũng cảm và thông thạo địa hình. Công tác trong vùng địch hậu phải hết sức bí mật tránh tề ngụy và bọn chỉ điểm, mật thám phát hiện nên những người giao liên thường đi ban đêm là chính. Không may trong một lần chuyển công văn từ xã Lạc Trị xuống Ngọc Tảo, ông bị sa vao ổ phục kích của bọn tề ngụy tại cánh đồng thuộc xã Phụng Thượng. Bắt được ông, chúng dùng dây thừng trói “quặt cánh khỉ” rồi giải về bốt Kim Lũ lại chuyển qua bốt Gia Hòa rồi mới đưa về phòng Nhì ở Sơn Tây lấy khẩu cung. Thấy ông dáng thư sinh chúng nghĩ rằng ông sẽ không chịu nổi đòn roi nên ban đầu chúng giở bài ngon ngọt dụ hàng. Mặc những lời đường mật của kẻ địch, bố tôi nhất quyết không khai ra cơ sở của ta trong vùng tề ngụy. Dụ dỗ hăm doạ không được, vậy là chúng liệt bố tôi vào hạng cứng đầu cứng cổ, cần phải có biện pháp mạnh “giáo dục”. Cách “giáo dục” mà chúng gọi chính là tra tấn để ép cung. Chúng bắt cha tôi cúi gập người rồi dùng dùi cui phang mạnh vào hai đầu gối, cứ mỗi lần ông sụp người xuống, chúng lại xếch ngược lên, chúng dập đầu bố tôi vào tường rồi dí điện vào rốn.
        Đến bây giờ tôi vẫn nhớ như in những vệt chai trước ngực và sau lưng cả dưới bàn chân của bố tôi bởi đòn roi và điện cao áp của kẻ thù. Bố tôi bảo: mấy chục năm đi qua song cái cảm giác dòng điện chạy trong người thật khó mà quên, nó khiến toàn thân rung lên, co rúm lại. Bố tôi chết đi sống lại sau những lần tra tấn như thế. Tra tấn mãi vẫn không lấy được lời khai chúng ném ông vào phòng giam cùng với bọn Tầu Tưởng Quốc dân đảng sau đó đưa tất cả đến sân bay Kim Đái (Sơn Tây) lao động khổ sai. Tháng 3/1950, chúng áp giải bố tôi cùng một số đồng chí khác lên Trung Hà- Quảng Oai. Ở đây chúng giam ông trong nhà tù dưới lòng đất, mỗi lần lên trên lại phải trèo bằng thang nên muốn trốn đi là điều rất khó. Nhờ có vốn tiếng Pháp nên mỗi lần tiếp xúc với bọn lính Âu - Phi bố tôi đã dạy tiếng Việt cho chúng, dần dà chiếm được lòng tin của chúng nên tạo được cơ hội trốn thoát. Kế hoạch trốn tù được mấy anh em bàn bạc thống nhất. Chớp cơ hội trong một lần ra giếng gánh nước rửa rau, ông cùng các đồng chí là Tuất, Trõ, Cúc bỏ chạy vào rừng. Lần mò mãi, cuối cùng mấy người cũng thoát ra được vùng tự do ở huyện Bất Bạt rồi tìm cách trở về cơ quan cũ. Sau lần đó vì đã bị lộ mặt nên bố tôi không thể tiếp tục làm giao liên mà được tổ chức điều động chuyển công tác sang Ty Bưu điện Sơn Tây đóng tại Ba Vì. Tại đơn vị công tác mới ông tình cờ quen biết một người con gái đồng nghiệp, đồng hương và mối tình của họ cứ thế nảy nở và đơm hoa.
          Cụ Bảy Tân - mẹ tôi xúc động lặng im nghe bố tôi kể chuyện của 2 người, giây phút sau tĩnh tâm hồi tưởng lại quá khứ cũng kể lại mạch lạc: công việc của người đưa công văn hỏa tốc thật gian nan vất vả. Người chạy công văn hỏa tốc cứ đầu trần chân đất cứ xuyên rừng mà đi, mà chạy. Có chuyến đi cả tuần lễ từ Ba Vì đi Hoà Bình, Ninh Bình Thanh hoá rồi ngược trở về. Rắn độc, thú dữ cũng không hiểm nguy bằng qua vùng tề ngụy. Ngộ nhỡ bị chúng bắt, làm sao để công văn không rơi vào tay địch, rồi làm sao chịu được các thủ đoạn tàn độc của chúng mà không cung khai! Gian nan nguy hiểm là vậy song chẳng ai nề hà, mỗi khi có công văn là lập tức lên đường bất kể ngày đêm. Trong một chuyến công tác mẹ đi cùng với đồng chí Hậu,  khi cùng  anh vượt qua một con suối thì gặp một con hổ lớn phía bên kia một tảng đá lớn. Mẹ lạnh người nhìn con hổ bằng xương bằng thịt lừng lững ngay trước mặt, gần đến nỗi có lẽ chỉ trong một tầm nhảy của nó. Thật may chẳng hiểu sao con hổ  ngước mắt nhìn 2 anh em, chưa kịp hoàn hồn nó đã biến mất vào rừng. 2 anh em được phen hú vía. Một lần khác sau khi vừa chạy công văn hỏa tốc cả đêm về mẹ lăn ra ngủ thì lại có công văn hỏa tốc mới. Anh cán bộ phụ trách vào lán gọi mẹ dậy. Đang ngái ngủ, mẹ bất giác lầu bầu "tốc cả đêm rồi, tốc gì mà lắm tốc thế". Nói vậy song mẹ vẫn nhanh nhẹn chuẩn bị những đồ dùng tư trang cần thiết lên đường làm nhiệm vụ. Sau chuyến đi ấy về các anh trong cơ quan nhắc lại câu nói của mẹ hồi sáng, mẹ nghĩ lại mà ngượng chín cả người.
        Trở lại chuyện về bố tôi. Ông vốn là người mảnh mai thư sinh, sau những ngày chịu đòn roi của kẻ thù về càng làm cho bố không được khỏe. Ngoài 20 tuổi song ông chưa tới 40kg. Thế nhưng, với bầu nhiệt huyết và ý chí cách mạng, vừa chuyển đến cơ quan mới, ngoài giờ làm chuyên môn bố lại cùng các đồng chí vào rừng chặt nứa về đan phên tu sửa các lán trại của cơ quan bị hư hỏng. Mẹ và bố tôi ở cùng một đội. Khi đó mẹ khỏe mạnh lại xuất thân từ con nhà nông, quen với các công việc rừng rú khi còn đi ở cho địa chủ nên làm việc gì cũng xốc vác. Khi đi lấy nứa thấy bố tôi lóng nga lóng ngóng, mẹ tôi đã chặt nứa giúp rồi bó lại cho bố tôi vác về. Biết bố mới thoát khỏi nhà tù của địch, gầy rớt, mẹ càng cảm thương nên chẳng cứ những hôm đi rừng mà thường ngày vẫn năng qua lại, khi thì đem cho bát cháo, khi thì gói thuốc bổ, lại còn động viên bố “phải cố sống để tiếp tục công tác”.
       Câu chuyện tình của 2 người giao liên năm xưa cứ thế được tái hiện theo lời kể của những người trong cuộc rõ đến từng chi tiết, ai kể thiếu chi tiết nào lại được người kia bổ sung hoàn thiện.
        Tình cảm hai người ngày thêm gắn bó, song lúc bấy giờ quan hệ trai gái khắt khe lắm, cho dù trai chưa vợ gái chưa chồng song chưa báo cáo tổ chức rất dễ bị đàm tiếu. Mẹ có tặng cho bố chiếc khăn mùi xoa do bà ấy tự thêu. Nhận chiếc khăn bố cảm kích lắm, đi đâu cũng mang chiếc khăn theo. Tiếc rằng trong một lần địch càn, bố đã để rơi mất nó. Mọi người đều nghĩ rằng mẹ hơn bố 2 tuổi, nhưng mãi sau này, khi đã là vợ chồng, bà ấy mới “khai” thật, hóa ra mẹ hơn bố tới 3 tuổi. Bà ấy bảo nghe người ta nói “nhất gái hơn 2, nhì trai hơn 1” nên chọn tuổi như vậy cho đẹp.
          Rồi chuyện tình của hai người rồi cũng đến lúc được công khai và đi vào hồi kết bằng một đám cưới do Chi bộ Đảng và Công đoàn chủ trì tổ chức. Ngày 2/9 năm 1950, để tổ chức đám cưới cho bố, mẹ tôi và cũng là kỷ niệm 5 năm ngày  độc lập, mỗi anh em trong cơ quan đã góp vào quỹ 5 xu. Mọi người trong cơ quan bảo nhau dựng lên một cái sạp làm sân khấu ngoài trời rồi cùng nhau múa hát mừng Quốc khánh. Về vật chất cơ quan còn cho mổ một con lợn 30kg để “ăn tết” độc lập. Thế nhưng cuộc vui chưa chọn thì nhận được lệnh tất cả mọi người phải khẩn trương rời khỏi lán ngay trong đêm vì có tin tình báo, rất có thể sáng mai địch sẽ mở cuộc càn quét khu vực này. Ai nấy đều cảm thấy ái ngại cho đôi trẻ, nhưng đang trong cuộc chiến ác liệt biết làm sao được.



Nữ giao liên hỏa tốc Bảy Tân và con gái đầu lòng 2 tháng tuổi (ảnh PV mặt trận chụp năm 1953) trước cửa hang đá bị bom pháp đánh sập một góc



Hai cụ Thạch Tân chụp năm 2005 kỷ niệm 50 năm ngày cưới.


          Đúng như tin tình báo của ta, sáng sớm 3/9, địch đã tổ chức trận càn quy mô lớn, có máy bay ném bom yểm trợ. Lán giao liên bị bom đánh sập, song do kịp thời sơ tán vào hang đá trên núi Ba Vì nên mọi người trong cơ quan đều an toàn. Riêng bố và mẹ tôi, theo lệnh của tổ chức ngay trong đêm đó mỗi người nhận một nhiệm vụ khác nhau. Bố tôi cùng các anh em rút về Đồng Thuống (thuộc tỉnh Hòa Bình) hoạt động còn mẹ tôi đưa một số cán bộ qua sông Đà sang vùng tự do ở Thanh Thủy (Phú Thọ). Đó cũng là đám cưới không có đêm tân hôn được lưu dấu trở thành kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời hai người giao liên hỏa tốc.  
          Cuối năm 1952, khoảng cách giữa bố và mẹ tôi vẫn gần 100km. Lúc này bố tôi được cử đi học y tá và đã chuyển sang làm nghề thầy thuốc. Cứ hơn một tháng, bố tôi lại đi bộ từ Nho Quan (Ninh Bình) vào Nông Cống- Thanh Hóa nhận thuốc cho đơn vị. Những lần đó ông nhân tiện tạt qua cơ quan vợ may mắn thì được gặp mặt người bạn đời của mình tí chút rồi lại đi ngay. Mãi đến đầu năm 1953 mẹ tôi mới được chuyển về khu 3 ở gần bố tôi. Vậy là sau hơn 2 năm, lần đầu tiên bố mẹ tôi mới có một đêm trọn vẹn dành cho nhau…
          Giữa năm 1953, dù đang mang bầu đứa con đầu lòng nhưng mẹ tôi vẫn giấu công văn, tài liệu trong người để thực hiện nhiệm vụ giao thông hỏa tốc. Khi đó cơ quan giao liên trạm 4 của mẹ ở trong hang đá tại Mãn Đức- dốc Quy Hậu (Hòa Bình) nhằm tránh địch ném bom. Đến lúc trở dạ, bố tôi còn đang đi học lớp chỉnh huấn (nâng cao trình độ lý luận chính trị) nên không có mặt. Đồng chí Hân (trưởng trạm vận chuyển muối) phải đứng ra làm “bà đỡ”. Ngay lúc đứa con gái đầu lòng vừa cất tiếng khóc chào đời thì cũng là lúc máy bay địch ném bom sập một góc cửa hang…
          Bây giờ bố mẹ tôi đều đã là người thiên cổ, bởi thế khi những ngày thu tháng Tám, nhất là ngày lễ Vu Lan đến tôi lại khôn nguôi nhớ về bố mẹ mình và câu chuyện tình của ông bà. Đó là ký ức đẹp và thật đáng tự hào của những người trưởng thành và đi ra từ trong cuộc chiến tranh ái quốc thần thánh của dân tộc.
Ngày lập nước cũng là ngày khai sinh cho một gia đình, dấu ấn ấy không thể quên đối với các thế hệ trong đại gia đình chúng tôi.

Thăng Long   

THỐNG KÊ
Đang truy cập:3
Hôm nay:119
Hôm qua:289
Trong Tháng:5199
Tổng số: 207754
khu bảo tồn thiên nhiên huyện mường la | khu bảo tồn thiên nhiên/a>